x
Trang chủ » Luận văn Các nhân tố tác động đến Cấu trúc kỳ hạn nợ của các Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam

Luận văn Các nhân tố tác động đến Cấu trúc kỳ hạn nợ của các Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam

Bình chọn

Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Các nhân tố tác động đến Cấu trúc kỳ hạn nợ của các Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. Với những học viên chuẩn bị làm bài luận văn thạc sĩ với sự chia sẻ của chuyên mục chia sẻ luận văn với đề tài: Các nhân tố tác động đến Cấu trúc kỳ hạn nợ của các Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Các nhân tố tác động đến Cấu trúc kỳ hạn nợ của các Công ty
Các nhân tố tác động đến Cấu trúc kỳ hạn nợ của các Công ty

===> Dịch Vụ Viết luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng – Bảng giá 2023

1.1. Lý do chọn đề tài

Trước khi xảy ra đại dịch COVID-19, ngành du lịch đã có bước tăng trưởng vượt bậc, trung bình 22,7%/năm trong giai đoạn 2015-2019. Năm 2019, toàn Ngành đón trên 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 85 triệu lượt khách du lịch nội địa; đóng góp trên 9,2% vào GDP và từng bước khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn (tỷ lệ đóng góp vào GDP năm 2015 là 6,3%). Nhưng trong 2 năm 2020, 2021, đại dịch COVID-19 tác động nặng nề tới toàn bộ đời sống, kinh tế – xã hội toàn cầu. Theo số liệu của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), ngành du lịch thế giới thiệt hại khoảng 2,4 nghìn tỷ USD trong năm 2021. Tại Việt Nam, hoạt động du lịch quốc tế phải tạm dừng hoàn toàn từ tháng 4/2020 đến tháng 11/2021, hoạt động du lịch nội địa trải qua 4 lần gián đoạn tương ứng với 4 lần bùng phát dịch. Năm 2022, áp lực lạm pháp tăng cao và những diễn biến không thuận lợi của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường bất động sản, … đã tác động mạnh đến hoạt động tiền tệ, ngân hàng. Việc mở rộng tín dụng của NHNN đi đôi với việc kiểm soát rủi ro kỳ hạn để đảm bảo thanh khoản, an toàn hoạt động, đảm bảo khả năng chi trả cho doanh nghiệp; đồng thời, trường hợp cần thiết hỗ trợ với kỳ hạn dài hơn để các TCTD yên tâm hơn khi cấp tín dụng. Theo đó, các TCTD sẽ phải lựa chọn khách hàng tốt để cho vay, đó là những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính vững mạnh. Do quan tâm đến lĩnh vực này cũng như kế thừa và tiếp nối những khoảng trống của các nhà khoa học đi trước, bài nghiên cứu lựa chọn thêm nhân tố khả năng chi trả nợ (DSCR) của doanh nghiệp vào mô hình nghiên cứu, vì đây cũng là một loại “tiêu chí” đảm bảo được cho khoản vay và giúp doanh nghiệp phát huy tối đa khả năng tạo dòng tiền ròng một cách hiệu quả. Từ đó, tìm ra được một số hàm ý chính sách và khuyến nghị cho nhà quản trị tài chính.

Cấu trúc kỳ hạn nợ là một mảng của cấu trúc vốn, do đó lựa chọn nguồn tài trợ từ nợ là một trong những cách công ty huy động nguồn vốn phục vụ cho việc sản xuất hay thực hiện các mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nâng cao hiệu quả hoạt động của DN lên một tầm mới. Cơ cấu một nguồn vốn tối ưu là cơ cấu vốn mà tại đó giá trị DN là lớn nhất, hay nói một cách khác là chi phí tài chính là nhỏ nhất và do vậy cũng làm tối đa hóa doanh thu của DN. Nếu cơ cấu vốn tác động đến hiệu quả hoạt động của DN, thì cơ cấu vốn cũng sẽ tác động đến sức khỏe tài chính cũng như khả năng phá sản của DN.

Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời nguồn vốn với phương pháp, hình thức huy động thích hợp để sản xuất kinh doanh được liên tục với chi phí sử dụng vốn thấp nhất. Tài chính công ty bao gồm tất cả các quyết định liên quan đến vấn đề tài chính của Doanh nghiệp và nó được nghiên cứu để tìm kiếm những chính sách phát triển nhằm tối đa hóa giá trị của công ty. Các quyết định này bao gồm quyết định đầu tư, quyết định phân phối và quyết định tài trợ. Khi xây dựng kế hoạch tài trợ, nhà quản lý không chỉ quan tâm đến việc phân bổ nguồn tài trợ từ nợ vay, vốn cổ phần mà cũng phải chắc chắn rằng từng thành phần chi tiết trong các nguồn tài trợ này phù hợp với chiến lược chung của công ty. Cấu trúc nợ vay có 50% là NDH sẽ không giống với cấu trúc nợ có 100% là NDH. Và trên hết, KHN có liên quan mật thiết đến giá trị công ty, khả năng thanh khoản thông qua sự khác nhau giữa chi phí sử dụng vốn của NNH – NDH, cung cấp dấu hiệu về chất lượng của các khoản thu nhập của công ty, tăng tính linh hoạt trong tài trợ và giảm chi phí huy động vốn và rủi ro hoàn trả (Cai và cộng sự, 2008).

Hiệu quả hoạt động tài chính như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa hiệu suất khai thác tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của DN. Ở thị trường kinh tế Việt Nam hiện nay, các công ty niêm yết thực tế chỉ vay ngắn hạn từ ngân hàng là chủ yếu nhằm bổ sung cho nhu cầu về tài sản lưu động, còn nguồn vốn vay dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định là rất ít. Các DN Việt Nam, cũng như các nước đang phát triển khác sử dụng cơ cấu nợ có nhiều NNH, hay còn gọi là cấu trúc nợ ngắn hạn (được tìm thấy trong Nguyễn Thanh Nhã, 2018).

Câu hỏi nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu đặt ra trước đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng DN sử dụng nhiều cấu trúc nợ ngắn hạn. Trong đó, việc sử dụng NNH được cho là do các DN Việt Nam có rủi ro thanh khoản cao (chất lượng tín dụng thấp) khiến chủ nợ không muốn cho vay dài hạn (Nguyễn Thanh Nhã, 2018). Có thể thấy, CTKHN ngắn hạn và dài hạn, ảnh hưởng của các yếu tố sẽ khác nhau dưới tác động khác nhau của chi phí đại diện và rủi ro thanh khoản. Cụ thể, khi tỷ trọng NNH trên tổng nợ cao, DN gặp rủi ro thanh khoản nhiều hơn, trong khi NDH chiếm tỷ trọng cao hơn thì tác động của CP người đại diện có thể gay gắt hơn. Với rủi ro thanh khoản cao, các DN có nhiều cơ hội đầu tư có thể phải chọn NDH để tài trợ.

Do xuất phát điểm về trình độ phát triển, hệ thống thể chế khác hẳn với các nước phát triển, thị trường tài chính trong các nền kinh tế mới nổi có rất nhiều điểm khác biệt với thị trường tài chính tại các nền kinh tế đã phát triển mà qua đó có thể khiến các công ty có các quyết định cấu trúc kỳ hạn nợ vay khác đi. Với bài nghiên cứu

“Các nhân tố tác động đến Cấu trúc kỳ hạn nợ của các Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam” tác giả mong muốn xem xét về các nhân tố tác động đến cấu trúc kỳ hạn của nợ vay, đặc biệt là là các nhân tố nội tại của Ngành quản trị Khách sạn – Du Lịch tại Việt Nam, một lĩnh vực đang được tác giả quan tâm và ứng dụng thực tiễn trong công việc, nhằm phục vụ việc thiết lập cấu trúc kỳ hạn nợ tối ưu, từ đó đạt được mục tiêu tăng trưởng như ý muốn nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro trong các công ty quản trị ngành Khách sạn – Du Lịch tại Việt Nam.

1.2. Mục tiêu của nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Bài nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cấu trúc kỳ hạn nợ của các công ty quản trị ngành Khách sạn – Du Dịch tại Việt Nam. Cụ thể luận văn nghiên cứu khả năng tài chính và khả năng thanh khoản – đại diện cho đặc điểm của công ty, có tương quan nghịch biến hay đồng biến với đến quyết định về kỳ hạn nợ. Từ đó, xác định những nhân tố nội tại mà các DN có thể chú ý khi đưa ra quyết định liên quan đến cấu trúc kỳ hạn nợ.

Câu hỏi nghiên cứu:

(1) Các nhân tố nội tại có tác động như thế nào đến CTKHN của các công ty quản trị Khách sạn – Du lịch niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam?

(2) Mức độ tác động của các nhân tố nội tại đến CTKHN, từ đó các công ty quản trị Khách sạn – Du lịch tại Việt Nam cần quan tâm đến nhân tố nội tại nào để thiết lập CTKHN tối tưu?

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là cấu trúc kỳ hạn nợ và các nhân tố nội tại tác động đến CTKHN của các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du Lịch niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam, cụ thể là khả năng tài chính và khả năng thanh khoản của DN.

Phạm vi nghiên cứu thực hiện nghiên cứu các nhân tố nội tại tác động đến CTKHN với mẫu gồm 30 công ty quản trị Khách sạn – Du lịch phi tài chính niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2005 – 2021. Để đánh giá tác động của các nhân tố nội tại đến CTKHN của các công ty này, tác giả sử dụng dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 30 công ty trên. Ngoài ra, dữ liệu cũng được bổ sung từ kho dữ liệu của Cophieu68.

1.4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng gồm mẫu 30 công ty quản trị Khách sạn – Du lịch phi tài chính niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX). Thời gian nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2021.

Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và từ kho dữ liệu của Cophieu68 của 30 công ty quản trị Khách sạn – Du lịch này.

Trong mô hình hồi quy dữ liệu bảng, ba phương trình ước lượng phổ biến nhất là:

(1) Mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS); (2) Mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model – FEM) và Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random

– Mô hình hồi quy Pooled OLS là một mô hình có hệ số không đổi, hay có hệ số chặn và độ dốc không đổi. Đối với mô hình này, nhà nghiên cứu có thể gộp tất cả dữ liệu và chạy một mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường.

– Với giả định tác động của những yếu tố không thể quan sát được (phần sai số không giải thích được), mô hình tác động cố định (FEM) ấn định mỗi quan sát có một hệ số cắt riêng và cố định các tác động của từng Công ty riêng lẻ.
– Mặt khác, trong mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), các tác động riêng lẻ được phân phối ngẫu nhiên với các hệ số chặn để nắm bắt các tác động riêng lẻ, mô hình hồi quy được chỉ định với một hệ số chặn đại diện cho tổng giá trị sai số

không đổi

Và để lựa chọn được mô hình nghiên cứu phù hợp giữa FEM và REM, luận văn sẽ sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn ra mô hình phù hợp.

1.5. Những đóng góp của đề tài

Khả năng chi trả nợ (DSCR) có đóng góp quan trọng cho các nghiên cứu CTKHN: Thứ nhất, đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng khả năng chi trả nợ (DSCR) trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng CTKHN tại các quản trị Khách sạn – Du lịch niêm

yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam.

Thứ hai, nghiên cứu củng cố và bổ sung cho các nghiên cứu trước khi không giả định các DN sử dụng CTKHN ngắn hạn, thay vào đó, nghiên cứu xem xét CTKHN ngắn và dài hạn. Nghiên cứu này cũng không giả định yếu tố tác động là như nhau tại mọi CTKHN vì sự thiếu phù hợp trong lý thuyết.

Thứ ba, việc chọn mẫu là các DN niêm yết tại Việt Nam có thể đánh giá tác động của các nhân tố đối với CTKHN sẽ có nhiều ý nghĩa hơn so với nghiên cứu các nhân tố này tại các quốc gia phát triển. Tác giả đã tìm thấy bằng chứng có tác động có ý nghĩa thống kê của các nhân tố nội tại của công ty lên kỳ hạn nợ bao gồm: độ biến động thu nhập, tài sản hữu hình, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh khoản, quy mô công ty và tỷ số khả năng trả nợ (DSCR). Theo đó, với các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du Lịch Việt Nam căn cứ vào tình hình nội tại của mình để quyết định cấu trúc kỳ hạn nợ phù hợp nhằm phân bổ nguồn tài trợ từ nợ đạt hiệu quả cao nhất.

Thứ tư, mẫu nghiên cứu lần đầu tiên được thực hiện trong Ngành quản trị Du lịch – Khách sạn vốn được xem là ngành sử dụng tỷ lệ đòn bẩy nhiều. Việc chọn mẫu là các Doanh nghiệp quản trị Du lịch – Khách sạn niêm yết tại Việt Nam để đánh giá tác động của các nhân tố đòn bẩy trong nội tại doanh nghiệp đối với CTKHN sẽ có nhiều quan sát quan trọng về CTKHN hơn do tính chất của Ngành. Ngoài ra, tác giả cũng cung cấp các hàm ý quan trọng nhằm cải thiện tình hình hiện tại của các doanh nghiệp quản trị Du lịch – Khách sạn niêm yết tại Việt Nam.

1.6. Nội dung nghiên cứu

Bài nghiên cứu được trình bày gồm 5 chương, cụ thể:

Chương 1: Giới thiệu.

Chương 2: Khung lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận

5.2. Gợi ý chính sách

Các chủ thể có lợi ích gắn với doanh nghiệp và các đối tượng có liên quan đều quan tâm đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm theo giác độ và với mục tiêu khác nhau, các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định với mục đích khác nhau. Từ những kết quả nghiên cứu trên, tác giả xin phép đưa ra các kiến nghị liên quan đến bài nghiên cứu như sau:

5.2.1. Đối với các nhà quản trị tài chính

Là người trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý hiểu rõ nhất tài chính doanh nghiệp. Bài nghiên cứu cũng cho thấy, khả năng tiếp cận nguồn tài chính là một tiêu chí quan trọng quyết định nhân tố cũng như mức độ tác động của nhân tố lên KHN. Lợi nhuận công ty được đo bởi lợi nhuận dòng tiền trên vốn thì được đặc trưng bởi CTKHN dài, các công ty được nghiên cứu có vay NNH và NDH để tài trợ cho HĐKD nhưng đa phần là NNH. Như vậy, các công ty có một số hạn chế để lựa chọn CTKHN và các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du Lịch Việt Nam có tốc độ điều chỉnh CTKHN chậm, chi phí điều chỉnh cao hơn do sai lệch CTKHN mục tiêu gây nên. Nhìn chung, nhà quản trị tài chính cần nghiên cứu về sự vận động và cách thức gia tăng giá trị của dòng tiền. Cụ thể cần phải lưu ý những vấn đề sau:

– Những nhân tố như Khả năng chi trả nợ và Tính thanh khoản có tác động đến CTKHN nên nhằm hạn chế các khoản chi phí phát sinh do vấn đề đại diện, công ty cần xem xét tính thanh khoản cũng như khả năng chi trả nợ của công ty trong tương lai mà đưa ra quyết định KHN hợp lý. Công ty có thanh khoản và tỷ số khả năng trả nợ cao sẽ thực hiện chính sách nợ với kỳ hạn dài chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ. Việc sử dụng NNH giúp DN giảm bớt chi phí vay nợ do có thể dự đoán được sự biến động của lãi suất, dễ dàng tiếp cận hơn đồng thời là một tín hiệu tốt ra thị trường để thu hút các nhà đầu tư và dự án tiềm năng.

– Biến động thu nhập thể hiện đặc điểm về tình hình tài chính của công ty và có tương quan dương đến CTKHN, điều này giúp công ty dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn vay. Những khoản cho vay trung, dài hạn thường có kỳ hạn điều chỉnh lãi suất thường từ 6 tháng đến 1 năm. Trong khi đó, phần lớn nguồn vốn huy động của các ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn và lãi suất khá linh hoạt theo thị trường. Sự chênh lệch về kỳ hạn và lãi suất giữa nguồn vốn huy động và cho vay là vấn đề nan giải nhất mà các ngân hàng phải tính toán và cân đối trong cho vay, do đó, các công ty cũng phải tối đa hóa được các cơ hội sử dụng chi phí vay nợ.

– Quy mô và tài sản công ty liên quan mật thiết đến giá trị thế chấp và giá trị của khoản vay. Quan tâm đến giá trị TSCĐ hiện tại của công ty cũng như mức độ phù hợp giữa kỳ hạn của tài sản và kỳ hạn của nợ. Tài sản có thời gian sử dụng càng dài càng nên tài trợ bằng vốn vay dài hạn. Nếu công ty có nhiều TSCĐ sẽ có nhiều khả năng vay NDH hơn và ngược lại. Các DN chưa thiết lập được các giấy tờ chứng minh QSH đối với các loại tài sản để đảm bảo cho khoản vay nên sử dụng nhiều NDH để hạn chế áp lực trả nợ khi đến hạn, ngoài ra công ty cũng nên tìm cách hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các tài sản như hạch toán xây dựng dở dang để đưa vào khai thác…

– Sự tương tác của Lợi nhuận giữ lại là một tương tác nghịch chiều, lợi nhuận giữ lại tăng, các chủ nợ sẽ đánh giá tích cực tiềm năng phát triển cũng như khả năng tín dụng của DN đó dẫn đến sẽ đãi ngộ nhiều ưu đãi trong việc đưa DN đó tiếp cận đến nguồn vốn, đồng thời lãi suất vay nợ cũng có thể phù hợp hơn. Do đó, để tối ưu hóa hiệu quả việc sử dụng chi phí tài chính công ty có thể chỉ sử dụng các khoản vay ngắn hạn để phục vụ nhu cầu vốn và ưu tiên sử dụng Lợi nhuận giữ lại để gia tăng giá trị DN và nhằm đề phòng xác suất về rủi ro thanh khoản, từ đó giảm nguy cơ phá sản. Trong lúc chờ đợi những chính sách, điều hành từ các CQCN, với tình hình thắt chặt room tín dụng hiện nay, các DN cân nhắc việc mua sắm MMTB mới để chờ tín hiệu thị trường, còn vốn thì sẽ huy động từ cổ đông thay vì vốn vay các TCTD với lãi suất cao.

– Liên quan đến tính chấp hành các quy định của Pháp Luật, cơ sở quản lý điều hành của từ phía các CQCN. Công ty cần chuẩn bị đầy đủ nội dung phương án và chứng từ sử dụng vốn theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 31/12/2016. Đặc biệt đối với các khoản vay có kỳ hạn ngắn (như vay bổ sung vốn lưu động hoặc hạn mức…) để SXKD. Chú ý tài liệu cung cấp cho TCTD về việc chứng minh mục đích sử dụng vốn, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 30 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/06/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, theo đó cá nhân cung cấp dịch vụ phải thực hiện kê khai nộp thuế TNCN theo quy định, các CQCN và TCTD có thể tra cứu thông tin tại trang web http://tracuunnt.gdt.gov.vn

– Từ tháng 04 – 07 / 2022, tức sau 3 tháng sau khi một số NH có động thái siết vốn, nhiều DN bước vào giai đoạn khát vốn, các dòng vốn đầu tư tài sản cũng có dấu hiệu co cụm, phòng thủ. DN quy mô vừa và nhỏ, chất lượng tài sản không cao sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn để xoay vòng. Với nhóm DN lớn phần nào ít áp lực hơn do còn tài sản để đảm bảo vay NH cùng với đó là họ đủ điều kiện để phát hành trái phiếu cũng như có khả năng vay trái phiếu quốc tế. Nhà quản trị tài chính cần chủ động nâng cao năng lực và khả năng lập phương án dòng tiền (Cash Flow) khả thi, khi đó quyền tài sản phát sinh dùng làm TSTC như giá trị dòng tiền chiết khấu (thu nhập thuần) sẽ là công cụ để nhà quản trị tài chính tự tin và chủ động hơn trong việc lựa chọn CTKHN phù hợp với tình hình tài chính của công ty.

– Lượng vốn mà DN cần sử dụng để đáp ứng nhu cầu SXKD phụ thuộc vào quy mô hoạt động của DN. Một trong những chỉ tiêu biểu hiện quy mô hoạt động của DN là doanh thu thuần (doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ hoặc doanh thu thuần HĐKD). Nhu cầu về vốn đòi hỏi sự cân bằng với đầu tư và quy mô hoạt động. Vì thế, khi doanh thu thay đổi, nhu cầu về vốn cũng thay đổi theo, sự thay đổi đó không nhất thiết phải theo một tỷ lệ cố định bởi lẽ nó còn phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn. Do vậy, nhà quản lý tài chính cần “ước tính” về vấn đề định hướng cho việc lập kế hoạch SXKD cũng như hoạch định chiến lược. Nhu cầu ước tính đó chính là nhu cầu dự báo các chỉ tiêu tài chính và

lập kế hoạch tài chính. Trong trường hợp lượng tiền giảm lớn hơn lượng tiền tăng trong kỳ, DN phải có kế hoạch để huy động thêm tiền từ các nguồn khác nhằm tránh gặp phải khó khăn trong thanh toán.

Nhìn chung, khi đi vay tại các TCTD cần nghiên cứu & chuẩn bị thật kỹ các hồ sơ để đảm bảo tuân thủ đúng quy định, quy trình và các tiêu chí yêu cầu của TCTD. Ngoài ra, các công ty cần có giải pháp huy động vốn bền vững thay vì chỉ phụ thuộc vào dòng vốn tín dụng của các NHTM như kênh cho thuê tài chính, các quỹ đầu tư mạo hiểm, thị trường chứng khoán, cổ phần, trái phiếu doanh nghiệp (tham khảo thêm Nghị định 65/2022. Theo Moody’s thì phải từa Baa trở lên, với S&P và Fitch là từ

BBB trở lên). Trong bối cảnh ba kênh huy động vốn trên thị trường, gồm tín dụng ngân hàng, cổ phiếu và TPDN, đều gặp khó khăn thì nhiều DN đã xoay xở đi tìm vốn từ nước ngoài (các thông tin công bố cho thấy kết quả huy động lên đến hàng tỉ đô la từ khối ngoại). Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý sử dụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro. Đó là những cổ đông, các cá nhân, các đơn vị, DN khác. Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến những tính toán về giá trị của DN. Thu nhập của các nhà đầu tư là cổ tức được chia và thặng dư giá trị của vốn. Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận thu được của doanh nghiệp. Vì vậy, nhà quản trị tài chính cần quan tâm điều hành: sức sinh lời bình quân vốn kinh doanh, sức sinh lời vốn cổ phần, giá của cổ phiếu trên thị trường so với mệnh giá, so với giá trị ghi sổ như thế nào, dự án đầu tư dài hạn của DN dựa trên cơ sở nào. Tính trung thực, khách quan của các báo cáo tài chính đã công khai để làm rõ triển vọng phát triển của DN…. từ đó nhà đầu tư dựa vào những thông tin tài chính chuyên nghiệp này và đưa ra quyết định đầu tư của họ vào DN.

Các chủ thể có lợi ích gắn với DN đều quan tâm đến thực trạng hoạt động và an ninh tài chính của DN, bằng việc phân tích CTKHN và khả năng thanh toán của DN để có thể thấy chất lượng và hiệu quả của hoạt động tài chính. Hiện không nên nhìn vào các dự báo vĩ mô tươi sáng, các báo cáo chỉ là ánh xạ của những câu chuyện trong quá khứ, không phản ánh được hiện thực. Do vậy, DN cần phát huy tối đa khả năng tạo dòng tiền ròng thông qua cách tổ chức và triển khai hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả (có điểm nhấn và sự khác biệt, đi nhanh nhưng đảm bảo quản lý được rủi ro, tránh thiệt hại và lãng phí nguồn lực không cần thiết…).

5.2.2. Đối với Cơ Quan Nhà Nước và Tổ Chức Tín Dụng

Đây là các cơ quan đại diện cho quyền lực và lợi ích của nhân dân thực hiện nhiệm vụ quản lý giám sát nền kinh tế, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của DN và Nhà nước, kiểm tra việc chấp hành Luật pháp của DN nhằm giúp các nhà quản lý của các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao một cách hiệu quả.

– TCTD cũng cần quan tâm hỗ trợ và hướng dẫn cho các khách hàng liên quan đến các thủ tục về hồ sơ pháp lý, thủ tục hành chính, phương án kinh doanh,…đảm bảo hồ sơ vay vốn vừa giải quyết đúng quy định vừa quản trị được rủi ro trong công tác cho vay.

– TCTD khi cho vay cần biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay, do đó, xác định khả năng hoàn trả nợ của DN là rất quan trọng. Những khoản cho vay dài hạn và những khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau. Đối với những khoản cho vay ngắn hạn thì đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của DN, nói khác đi là khả năng ứng phó của DN khi nợ vay đến hạn trả. Đối với các khoản cho vay dài hạn, cần thẩm định tài chính các dự án đầu tư, quản lý được quá trình giải ngân sử dụng vốn cho từng dự án đầu tư để đảm bảo khả năng hoàn trả nợ thông qua thu nhập và khả năng sinh lời của DN cũng như kiểm soát dòng tiền của các dự án đầu tư của DN.

Tài sản hữu hình (TSĐB) là một trong các điều kiện mà người vay cần phải đáp ứng để được các TCTD cấp tín dụng có bảo đảm bằng tài sản. Vấn đề đặt ra là các TCTD định giá những tài sản như thế nào nhằm vừa đảm bảo hạn chế rủi ro cho các TCTD vừa đảm bảo quyền lợi của công ty sở hữu tài sản đó, vì vậy:

– Cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất các quy định trong việc quản lý cũng như định giá TSHH, đặc biệt là đất đai. Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên & Môi trường cần có những hướng dẫn rõ ràng về các tỷ suất chiết khấu, tỷ lệ lợi nhuận cho nhà đầu tư…để làm cơ sở xác định đúng giá trị của tài sản theo quy định của Nhà nước. Công tác quản lý tài sản là đất đai cần tránh chồng chéo, tạo sự thống nhất trong quản lý giúp DN thuận tiện trong việc thực hiện các hồ sơ thẩm định giá tài sản để thế chấp vay vốn.

– NHNN chỉ đạo các TCTD tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục vay vốn; đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng để tăng khả năng tiếp cận vốn cho người dân và DN; nâng cao hiệu quả thẩm định và đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, quản lý dòng tiền để tăng cường khả năng cho vay không có TSĐB (lý do chủ yếu nhất cũng vì thiếu tài sản đảm bảo nên không vay được vốn ngân hàng). Tăng cường kết nối giữa TCTD – DN nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng.

– Quy định pháp luật còn chưa thực sự rõ ràng nên dẫn đến việc trong thực tế áp dụng vẫn còn một số vấn đề vướng mắc liên quan đến biện pháp bảo đảm bằng tài sản. Khuôn khổ pháp lý về biện pháp bảo đảm còn khá sơ lược và vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các TCTD. TSTC phải là sở hữu hợp pháp của bên vay, khi đưa ra thế chấp phải giao nộp hiện vật (nếu là tài sản có thể lưu giữ ở kho của TCTD) hoặc giấy tờ … vì thế, cần xem xét, hướng dẫn và tạo điều kiện cho DN và NHTM thực hiện các khoản vay đảm bảo bằng quyền sở hữu – sử dụng – định đoạt tài sản (sau đây gọi là Quyền tài sản) chưa đáp ứng đủ các điều kiện, nguyên tắc, quy định nêu tại Điều 106; Quyền hưởng dụng theo quy định từ Điều 257 đến điều 266 của Bộ Luật Dân sự năm 2015. Ví dụ, TSTC là toàn bộ quyền và lợi ích được hưởng từ giá trị lợi thế QSD đất hàng năm và lợi tức được hưởng từ quyền khai thác công trình xây dựng và hoa lợi trên đất thì nội dung đăng ký giao dịch đảm bảo có thể là “các khoản lợi, lợi tức thu được từ việc kinh doanh, khai thác giá trị của dự án …” để tránh tiềm ẩn rủi ro trong quá trình xử lý tài sản để xử lý nợ.

– TSĐB là nhân tố giúp các NHTM hạn chế được rủi ro khi cấp tín dụng tuy nhiên bối cảnh mới cho thấy, những khoản cấp tín dụng có TSĐB cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Chất lượng thẩm định TSĐB của nhiều TCTD ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được chuyên môn hóa và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các TCTD, đặc biệt là rủi ro về thẩm định giá trị TSĐB. Để hạn chế rủi ro trong việc cấp tín dụng có TSĐB, các TCTD phải từng bước chuyên môn hóa hoạt động thẩm định TSĐB của mình, tùy thuộc vào quy mô hoạt động và khả năng chuyên môn hóa và khẩu vị rủi ro của từng TCTD, tuy nhiên cần lưu ý:

 Thứ nhất, đảm bảo tuân thủ tuyệt đối các tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; Kiểm soát dòng tiền của DN, phát vay kèm các điều kiện tín dụng để đảm bảo dòng tiền quay về chi nhánh; Áp dụng chế tài tín dụng: thu nợ trước hoặc đúng hạn.

 Thứ hai, thường xuyên cập nhật các quy định điều chỉnh/bổ sung của pháp luật và các tình huống phát sinh thực tế; Hạn chế tài trợ đối với các dự án không ổn định, chứa đựng nhiều rủi ro, thông tin về pháp lý chưa rõ ràng; Sử dụng thông tin tra cứu CIC về BĐS trước khi nhận thế chấp.

 Thứ ba, xây dựng và ban hành đầy đủ các quy định nội bộ về thẩm định giá TSĐB, dựa trên Hệ thống các tiêu chuẩn thẩm định giá của Việt Nam và có tham khảo thêm Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế. Các biểu mẫu cần thiết cũng phải chuẩn bị đầy đủ. Ngoài ra, các TCTD cần tuyển dụng được đội ngũ chuyên viên thẩm định TSĐB tốt nghiệp chuyên ngành thẩm định giá hoặc tổ chức đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ thẩm định TSĐB nói chung, thẩm định giá TSĐB nói riêng. Cần ưu tiên tuyển dụng nhân sự có chứng chỉ hành nghề thẩm định giá và có kinh nghiệm hành nghề thẩm định giá nhiều năm. Phải có bộ phận làm công việc thường xuyên thu thập và cập nhật dữ liệu thông tin phục vụ cho công tác thẩm định giá trị TSĐB đảm bảo phù hợp với giá trị thị trường tại thời điểm thẩm định giá. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (học máy, AI…) trong việc tìm kiếm và thu thập dữ liệu để có được vùng giá các loại TS của từng khu vực ở từng thời điểm, làm cơ sở cho việc kiểm chứng mức giá cuối cùng theo các cách tiếp cận khác nhau của các thẩm định viên.

– Hoạt động cho vay của NHTM là kênh trực tiếp “bơm vốn” ra nền kinh tế, và phải chịu sự điều hành, quản lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Hiện nay, hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng đang được quy định trong Thông tư 39/2016/TT-NHNN (Thông tư 39). Mới đây, NHNN đã ban hành dự thảo sửa đổi Thông tư 39, theo đó những nhu cầu vốn không được cho vay được quy định trong điều 8 của Thông tư 39 có khá nhiều thay đổi, Khách hàng mua BĐS sẽ không còn được giải ngân hoàn vốn khi dự thảo sửa đổi Thông tư 39 được áp dụng. Từ đó, các TCTD nên xem xét bổ sung quy định về các trường hợp cụ thể cần thực hiện thu thập các chứng từ, hóa đơn đầu vào và đầu ra trước, trong và sau khi cho vay nhằm thẩm định đầy đủ khả năng tài chính đảm bảo DN thanh toán nợ vay, tăng khả năng kiểm soát khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích.

– Thông tư 08/2020-NHNN, từ 2017 đến nay NHNN đưa ra lộ trình giảm giới hạn tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn theo từng bước về 30%, từ 01/10/2022 giảm từ 37% -> 34%, từ 01/10/2023 trở đi là 30% để đảm bảo an toàn cho hệ thống Ngân hàng bởi trong những năm qua hệ thống Ngân hàng đã phải gánh phần lớn vốn cho vay TDH cho nền kinh tế vốn còn kém phát triển. Vì vậy, TCTD cần cân đối các khoản vay để đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn vốn.

Phát triển thị trường tài chính sẽ tạo nên nhiều cơ hội cho công ty vay nhiều NDH. Đây là nguồn vốn cần thiết cho công ty trong phát triển HĐKD, góp phần giảm áp lực vay ngắn hạn tại các trung gian tài chính, giảm thiểu được vấn đề nợ tiêu cực trong việc thẩm định TSĐB, giảm bớt nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng. Nhà nước cần tiếp tục làm lành mạnh hóa môi trường pháp lý, cải thiện điểm số của các tiêu chí sau: tiếng nói và trách nhiệm giải trình, hiệu quả của chính phủ, chất lượng các quy định, nhà nước pháp quyền và kiểm soát tham nhũng. Thay vì để hệ thống ngân hàng/TCTD “gồng gánh” như từ trước đến nay, nên xem xét việc xây dựng thị trường vốn dài hơi hơn cho Việt Nam, trong đó không chỉ có thị trường cổ phiếu mà còn là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, phục vụ cho các khoản vay trung và dài hạn với chi phí hợp lý hơn. Cuối cùng là hướng đến mục tiêu nâng cao năng lực tài chính của các chủ thể tham gia quản trị, vì cái gốc nằm ở TỔ CHỨC & KIỂM SOÁT.

GẶP TƯ VẤN VIÊN

Chúng tôi chuyên nhận làm trọn gói dịch vụ viết thuê luận văn sẽ giúp bạn hoàn thành đề tài của mình.
0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Bài viết mới
Ngân hàng thương mại là gì và Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại

Bình chọn Tổng quan về Ngân hàng thương mại giành cho đang sinh viên, học viên cao học theo học ngành tài chính ngân hàng đang hoàn thiện khóa luận, luận văn thạc sĩ. Bài viết này  cho các bạn cái nhìn tổng quan về:Ngân hàng thương mại là gì và Các hoạt động cơ […]

Luận văn Hoàn thiện công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Hoàn thiện công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. Với những học viên chuẩn bị làm bài […]

Luận văn Phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Lâm Đồng

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Lâm Đồng cho các bạn học viên đang làm luận văn tham […]

Luận văn Phát triển dịch vụ tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Bình Dương

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Phát triển dịch vụ tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Bình Dương cho các bạn học viên đang làm luận văn tham […]

luận văn Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. Với những học viên chuẩn bị làm bài […]

Luận văn Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. Với những học viên chuẩn […]

Luận văn Nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Lâm Đồng II

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Lâm Đồng II cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. […]

Luận văn Nâng cao chất lượng dịch vụ Mobile Banking tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Giáo

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Nâng cao chất lượng dịch vụ Mobile Banking tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Giáo cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. Với những […]

Bài viết liên quan
Ngân hàng thương mại là gì và Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại

Bình chọn Tổng quan về Ngân hàng thương mại giành cho đang sinh viên, học viên cao học theo học ngành tài chính ngân hàng đang hoàn thiện khóa luận, luận văn thạc sĩ. Bài viết này  cho các bạn cái nhìn tổng quan về:Ngân hàng thương mại là gì và Các hoạt động cơ […]

Luận văn Hoàn thiện công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Hoàn thiện công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. Với những học viên chuẩn bị làm bài […]

Luận văn Phát triển dịch vụ tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Bình Dương

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Phát triển dịch vụ tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Bình Dương cho các bạn học viên đang làm luận văn tham […]

luận văn Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. Với những học viên chuẩn bị làm bài […]

Luận văn Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. Với những học viên chuẩn […]

Luận văn Nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Lâm Đồng II

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Lâm Đồng II cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. […]

Luận văn Nâng cao chất lượng dịch vụ Mobile Banking tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Giáo

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Nâng cao chất lượng dịch vụ Mobile Banking tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Giáo cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. Với những […]

Luận văn Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài Gòn

Bình chọn Chuyên mục chia sẻ các đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài Gòn cho các bạn học viên đang làm luận văn tham khảo. […]

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
DMCA.com Protection Status