Đề án môn học Nâng cao hiệu quả áp dụng chính sách tài khóa của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023
Chia sẻ tài liệu Đề án môn học Nâng cao hiệu quả áp dụng chính sách tài khóa của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của mình đạt kết quả cao nhất.
- Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang đối mặt với nhiều biến động và thách thức, đặc biệt là sau đại dịch COVID-19 khi mà toàn bộ thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề thì việc áp dụng chính sách tài khóa sao cho hiệu quả trở thành yếu tố quan trọng để duy trì ổn định kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng. Ở Việt Nam, Chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp tài khóa nhằm hỗ trợ duy trì sự ổn định và phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách tài khóa vẫn tồn tại những hạn chế như thâm hụt ngân sách, nợ công tăng cao và hiệu quả chi tiêu công chưa được tối ưu. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiêm túc đánh giá lại mức độ hiệu quả trong áp dụng chính sách tài khóa của Chính phủ, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cải thiện.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Thực trạng hiệu quả áp dụng chính sách tài khóa của Chính phủ giai đoạn 2021-2023. Những hạn chế và đề xuất giải pháp cải thiện” với mục tiêu phân tích và đánh giá thực trạng việc áp dụng chính sách tài khóa của Chính phủ Việt Nam hậu COVID-19, xác định những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả những chính sách này. Nghiên cứu sẽ tập trung vào các biện pháp tài khóa chính bao gồm thuế, chi tiêu công và quản lý nợ công
- Mục tiêu nghiên cứu
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Kết cấu của đề án
Cấu trúc của đề án bao gồm ba chương chính:
- Chương 1 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về chính sách tài khóa, bao gồm các khái niệm, vai trò, công cụ và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tài khóa.
- Chương 2 tập trung vào thực trạng áp dụng chính sách tài khóa ở Việt Nam giai đoạn 2021-2023 thông qua việc phân tích tình hình các yếu tố quyết định đến mức độ hiệu quả của việc áp dụng chính sách tài khóa.
- Chương 3 sẽ đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chính sách tài khóa ở Việt Nam, với các đề xuất cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách và kiểm soát nợ công.
Việc nghiên cứu và hoàn thành đề án này không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn, góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách tài khóa tại Việt Nam, hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế bền vững và tăng cường hội nhập quốc tế
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
Nội dung chính
- 1.1. Tổng quan về chính sách tài khóa
- 1.1.1. Khái niệm
- 1.1.2. Mục tiêu và vai trò của chính sách tài khóa
- 1.1.3. Các công cụ của chính sách tài khóa
- 1.1.4. Các quan điểm hoạch định chính sách tài khóa
- 1.1.5. Tác động của chính sách tài khóa
- 1.2. Hiệu quả của chính sách tài khóa
- 1.2.2. Các chỉ tiêu đo lường độ hiệu quả của chính sách tài khóa
- 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tài khóa
- 2.1. Các chính sách tài khóa của Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023
- 2.2. Thực trạng về hiệu quả áp dụng chính sách tài khóa của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023
- 3.1. Nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách
- 3.2. Nâng cao hiệu quả chi tiêu công
- 3.3. Giải pháp quản lý và kiểm soát nợ công
1.1. Tổng quan về chính sách tài khóa
1.1.1. Khái niệm
Chính sách tài khóa là hệ thống các chính sách của Chính phủ về tài chính, thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính (1 năm), nhằm tác động đến các định hướng phát triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu của Chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế).
Chính sách tài khóa là những quyết định của chính phủ về chi tiêu và thuế, giúp chính phủ duy trì sản lượng và việc làm ở mức mong muốn. Về mặt dài hạn, chính sách tài khóa có thể có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giúp cho sự tăng trưởng và phát triển lâu dài.
Trong kinh tế học vĩ mô, chính sách tài khóa còn được định nghĩa là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động đến nền kinh tế. Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế.
Tuy nhiên vẫn có những sự khác nhau giữa những loại chính sách này. Chính sách tài chính là một định nghĩa rất rộng, được hợp thành bởi nhiều chính sách khác nhau nhằm điều tiết, kiểm soát và định hướng sự phát triển của nền kinh tế. Chính sách tài chính quốc gia là chính sách điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị. Nội dung của chính sách tài chính bao gồm: chính sách về vốn, chính sách tài chính doanh nghiệp, chính sách tài khóa, chính sách tài chính đối ngoại, các chính sách về tín dụng – tiền tệ, chính sách về thu nhập,…
Về cơ bản, chính sách tài khóa là chính sách thu chi của chính phủ hay còn gọi là chính sách ngân sách. Còn chính sách tiền tệ là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của ngân hàng trung ương nhằm góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền.
1.1.2. Mục tiêu và vai trò của chính sách tài khóa
Mỗi quốc gia khi áp dụng chính sách tài khóa đều hướng đến việc đạt được sự ổn định cho toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó, đi kèm với việc bình ổn nền kinh tế thì một mục tiêu quan trọng khác của chính sách tài khóa là duy trì mức sản lượng tiềm năng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và tỷ lệ lạm phát vừa phải.
Dù rằng việc theo đuổi một ngân sách cân bằng với mục tiêu ổn định luôn là mục tiêu của nhà nước nhưng luôn phải nhận thức rõ rằng cân bằng ngân sách không phải lúc nào cũng có lợi đối với nền kinh tế. Việc tuyệt đối hóa mục tiêu cân bằng ngân sách có thể làm cho sự dao động của sản lượng trong các chu kỳ kinh tế trở nên trầm trọng hơn. Tuy nhiên tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư ngân sách vẫn có thể góp phần ổn định kinh tế, tiêu biểu có thể kể đến khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn suy thoái thì Chính phủ cần phải đẩy mạnh chi tiêu để kích cầu nền kinh tế. Vì vậy yêu cầu cấp thiết là phải duy trì chính sách thuế ổn định và sẵn sàng chấp nhận thâm hụt trong ngân sách khi suy thoái hoặc khi nhu cầu chi tiêu cao bất thường. Sẽ có những khoản chi ở hiện tại là để dành cho tương lai nên Chính phủ sẵn sàng chấp nhận thâm hụt.
Bên cạnh đó, cũng có các nhân tố ổn định tự động, đó là những nhân tố có tác dụng hạn chế phần nào sự dao động của sản lượng như thuế thu nhập lũy tiền hay trợ cấp thất nghiệp. Khi thu nhập quốc gia thay đổi thì thuế thu nhập cũng tự động thay đổi dẫn đến tình trạng giảm bớt sự dao động của sản lượng. Còn đối với trợ cấp thất nghiệp thì sẽ có sự gia tăng khi nền kinh tế rơi vào suy thoái và ngược lại, sẽ giảm bớt khi nền kinh tế đang phát triển, dòng tiền sẽ tự động được bơm và rút ra khỏi nền kinh tế nên sẽ hạn chế được sự dao động của sản lượng.
1.1.3. Các công cụ của chính sách tài khóa
Để đạt được những mục tiêu đó, chính sách tài khóa sử dụng 2 công cụ chủ yếu đó là chi tiêu của chính phủ và thuế:
- Chi tiêu của chính phủ (G): là khoản chi để mua các hàng hóa, dịch vụ của khu vực công cộng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của chi tiêu công cộng, do đó có thể trực tiếp tác động đến tổng cầu và sản lượng
- Thuế (T): Là nguồn thu của chính phủ: thuế làm giảm các khoản thu nhập, do đó làm giảm chi tiêu của khu vực tư nhân, tác động đến tổng cầu và sản lượng, cũng có thể tác động đến đầu tư và sản lượng về mặt dài hạn
1.1.4. Các quan điểm hoạch định chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa chính là việc chính phủ sử dụng chi tiêu và nguồn thu thuế để tác động lên nền kinh tế. Sự kết hợp và tác động qua lại giữa chi tiêu chính phủ và nguồn thu ngân sách là một sự cân bằng dễ bị phá vỡ và đòi hoit việc xác định thời điểm chính xác và một chút may mắn để đạt hiệu quả. Tác động thực tiếp và gián tiếp của chính sách tài khóa có thể ảnh hưởng đến chi tiêu cá nhân, đầu tư của doanh nghiệp, tỷ giá hối đoái, mức thâm hụt ngân sách và thậm chí cả lãi suất – chỉ sổ thường được coi là liên quan đến chính sách tiền tệ nhiều hơn
Chính sách tài khóa thường gắn liền với trường phái Keynes (trường phái lý thuyết do nhà kinh tế học người Anh john Maynard Keynes khởi xướng). Những nghiên cứu của chính của ông như “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã ảnh hưởng đến những tư tưởng mới lý giải về cách thức nền kinh tế hoạt động và vẫn được nghiên cứu cho đến ngày nay. Hầu hết lý thuyết của ông được phát triển trong thời kỳ Đại khủng hoảng (1929 – 1933). Đến nay, lý thuyết của Keynes đã được dùng khá phổ biến và chỉ áp dụng đặc thù để giảm ảnh hưởng trong thời kỳ suy thoái. Lý thuyết của Keynes dựa trên tư tưởng rằng: sự chủ động từ chính phủ là cách duy nhất để chèo lái nền kinh tế. Điều này ngụ ý rằng chính phủ nên sử dụng quyền hạn của mình để tăng tổng cầu bằng cách chi tiêu và tạo ra môi trường lưu thông tiền tệ dễ dàng, từ đó kích thích nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và cuối cùng tăng thêm của cải trong xã hội. Những người ủng hộ chính sách tiền tệ như Milton Friedman và người theo trường phái “trọng cung” cho rằng, những động thái đang diễn ra của chính phủ sẽ chẳng thể cứu vãn đất nước thoát khỏi giai đoạn khủng hoảng khi mà mức GDP dưới trung bình ngày càng mở rộng, còn lãi suất thì bất ổn.
Chính sách tài khóa có thể được hoạch định theo các xu hướng: chính sách tài khóa cân bằng, chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thắt chặt.
- Chính sách tài khóa cân bằng(hay còn gọi là chính sách tài khóa trung lập) là chính sách tài khóa mà theo đó, tổng chi tiêu của chính phủ cân bằng với các khoản thu từ thuế, phí lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vay nợ.
- Chính sách tài khóa mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt) là chính sách chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:
- Gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc
- Giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc
- Vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu từ thuế
Chính sách tài khóa mở rộng được sử dụng khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, nhà nước có thể giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tư công cộng) có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm. Tuy nhiên, chính sách tài khóa mở rộng thường dẫn đến việc chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách.
- Chính sách tài khóa thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thu hẹp) là chính sách hạn chế chi tiêu chính phủ bằng cách:
- Chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc
- Không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc
- Vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu thuế
Chính sách tài khóa thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nhanh và thiếu bền vững hoặc khi nền kinh tế gặp tình trạng lạm phát cao, thì nhà nước có thể tăng thuế và giảm chi tiêu của mình để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng phát triển quá nóng dẫn tới đổ vỡ. Việc này có thể làm thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó.
Nguyên tắc thực hiện chính sách tài khóa
Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái thì áp dụng chính sách tài khóa nới lỏng (chính sách kích cầu) còn khi có tình trạng lạm phát cao thì áp dụng chính sách tài khóa thắt chặt.
1.1.5. Tác động của chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa với sự tăng trưởng kinh tế
Cũng giống như chính sách tiền tệ , chính sách tài khóa có thể được sử dụng để điều chỉnh sự mở rộng hoặc thu hẹp GDP – Chỉ số thể hiện tăng trường kinh tế.
Khi chính phuer sử dụng quyền hạn của mình để giảm thuế hay tăng chi tiêu đồng nghĩa chính phủ đang vận dụng chính sách tài khỏa mở rộng. Nhìn bên ngoài, những nỗ lực mở rộng của chính phủ có vẻ chí mang lại hiệu quả tích cực bằng cách kích thích nền kinh tế nhưng hiệu ứng domino kéo theo lại mở rộng hơn thế nhiều. Khi tốc độ chi tiêu chính phủ nhanh hơn so với thu thuế, chính phủ sẽ phát hành trái phiếu để tài trợ cho việc chi tiêu, từ đó dẫn tới gia tăng nợ quốc gia. Khi chính phủ tăng vay nợ thông qua phát hành trái phiếu, việc phát hành trái phiếu của chính phủ trên thị trường mở sẽ phải cạnh tranh với khu vực kinh tế tư nhân – nhóm đối tượng cũng muốn phát hành trái phiếu cùng thời điểm đó, điều này có thể làm tăng lãi suất gián tiếp vì gia tăng cạnh tranh đề giành nguồn vốn vay – hiệu ứng này có tên gọi “chen lấn vay nợ” (crowding out). Ngay cả nếu kích thích bằng cách tăng chi tiêu chính phủ, ban đầu có thể có một số hiệu quả tích cực trong ngắn hạn, nhưng một phần tăng trường kinh tế sẽ bị mất đi bới chi phí vay sẽ tăng lên đối với những người đi vay, trong đó có chính phủ.
Chính sách tài khóa tác động đến tiết kiệm – tiêu dùng cá nhân (Thuyết cân bằng Barro – Ricardo)
Nhà nước thực hiện chính sách tài chính nới lỏng bằng cách tăng chi tiêu chính phủ nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo việc lam. Nhưng để có nguồn tài chính cho các khoản chi tiêu đó, nhà nước lại phát hành trái phiếu làm cầu tiền vay tăng đẩy lãi suất thị trường tăng. Robert Barro khẳng định: người dân, sẽ hiểu rằng hôm nay nhà nước đi vay thì tương lai thì nhà nước sẽ tăng thuế để có tiền trả nợ, nên sẽ giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm hôm nay để tương lai có tiền nộp thuế. Phần tiết kiệm từ người dân tăng tương đương với nhu cầu vay tăng lên của chính phủ. Do đó lãi suất thị trường trở lại trặng thái cân bằng ban đầu. Như thế, tuy nhà nước tăng tiêu dùng của mình, nhưng lại làm giảm tiêu dùng cá nhân, cũng đồng nghĩa làm cho tăng trưởng chậm lại, thất nghiệp tăng lên, nên hiệu quả của chính sách tài khóa sẽ không cao như nhà nước mong đợi, mục tiêu ban đầu của chính sách tài khóa không đạt được.
Chính sách tài khóa với sự cân bằng cán cân thương mại
Một ảnh hưởng gián tiếp khác của chính sách tài khóa thường bị bỏ qua đó là khả năng các nhà đầu tư nước ngoài nỗ lực mua vào đồng nội tệ nhằm đầu tư vào trái phiệu nội địa trên thị trường mở giờ đây có lợi tức cao hơn. Đồng nội tệ mạnh lên có vẻ là một dấu hiệu tích cực về bề nổi, tùy thuộc vào mức độ biến động tỷ giá, nhưng nó có thể làm cho hàng hóa của nội địa trở nên đắt đỏ hơn khi xuất khẩu và các mặt hàng nhập khẩu nước ngoài thì rẻ hơn. Vì hầu hết người tiêu dùng thường coi giá là yếu tố quyết định trong hoạt động mua sắm, sự dịch chuyển sang tiêu dùng hàng ngoại thay vì hàng trong nước sẽ dẫn tới sự mất cân bằng tạm thời trong cán cân thương mại. Các kịch bản này cần được cân nhắc và dự đoán. Không dễ để dự đoán kết quả nào sẽ xảy ra với mức độ ra sao bới còn nhiều yếu tố khác như thảm họa thiên nhiên, chiến tranh,… có thể làm thị trường biến động.
1.2. Hiệu quả của chính sách tài khóa
- Khái niệm hiệu quả của chính sách tài khóa
Hiệu quả là gì? HQ của CSTK là gì?
1.2.2. Các chỉ tiêu đo lường độ hiệu quả của chính sách tài khóa
Thâm hụt ngân sách nhà nước
Thâm hụt ngân sách nhà nước (hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước) là tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước (NSNN) vượt quá các khoản thu không mang tính hoàn trả (thu trong cân đối) của ngân sách nhà nước.
- Phân loại thâm hụt NSNN
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại:
- Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của Chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng…
- Thâm hụt chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. (Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên).
Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau:
+ Thâm hụt ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm)
+ Thâm hụt ngân sách cơ cầu: tính toán thu, chi và thâm hụt sẽ là bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng.
+ Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là thâm hụt ngân sách bị động do sự vận động theo chủ kỳ của nền kinh tế thị trường. Thâm hụt ngân sách chu kỳ được tính bằng hiệu số giữa thâm hụt ngân sách thực có và thâm hụt ngân sách cơ cấu.
Việc phân biệt giữa thâm hụt ngân sách cơ cấu và thâm hụt ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động. Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế.
1.2.1.1. Nguyên nhân gây ra thâm hụt ngân sách
Trong lịch sử phát triển tài chính, thâm hụt ngân sách nhà nước đã trở thành một hiện tượng khác phổ biến ở các nước đang phát triển và những nước kinh tế chậm phát triển. Tuy nhiên, ở mỗi nước sẽ có những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng này khác nhau. Thâm hụt NSNN do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thâm hụt NSNN gồm các nguyên nhân chính sau:
Trước hết, đó là những nguyên nhân mang tính khách quan do diễn biến của chu kỳ kinh doanh, do tác động của thiên tai, chiến tranh, bất ổn chính trị hay của các yếu tố bất khả kháng. Do những biến cố không lường trước của thiên tai, chiến tranh hay bất ổn chính trị,… làm cho nguồn thu bị giảm, mặt khác nhu cầu chi tiêu để khắc phục hậu quả thiên tai, để vãn hồi tình trạng hòa bình hay ổn định,…dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.
Thứ hai, là những nguyên nhân mang tính chủ quan, thuộc về quá trình quản lý và điều hành ngân sách nhà nước
- Nhóm nguyên nhân khách quan
- Do diễn biến của chu kỳ kinh doanh: Ở giai đoạn khủng hoảng, thu nhập của ngân sách nhà nước co lại, song nhu cầu chi tiêu tăng lên để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên còn ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của ngân sách nhà nước sẽ tăng lên trong khi mức chi lại không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN;
Mức bội chi NSNN do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ
- Do tác động của điều kiện tự nhiên và các yếu tố bất khả kháng: Xã hội luôn phải đối mặt với những rủi ro thiên tai, bệnh dịch và đôi khi cả những rủi ro do chính con người gây ra như chiến tranh, khủng bố, tình trạng dân số gia tăng… Mặc dù khi lập dự toán ngân sách, các quốc gia đã có những biện pháp dự phòng nhưng đôi khi rủi ro vượt ra ngoài dự đoán để có thể xử lý các tình trạng khẩn cấp nhằm ổn định các hoạt động kinh tế xã hội, nhà nước buộc phải tăng chi và thâm hụt ngân sách xảy ra ngoài mong muốn của nhà nước
- Nhóm nguyên nhân chủ quan
- Do cơ cấu thu chi ngân sách thay đổi: Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.
- Do điều hành ngân sách nhà nước không hợp lý:
+ Do thất thu thuế:
Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho NSNN bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, thu từ doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ,… Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật nước ta còn nhiều bất cập. Sự quản lý chưa chặt chẽ đã tạ kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho NSNN.
Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất nhưng cũng sẽ làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt NSNN
+ Đầu tư công kém hiệu quả:
Nền kinh tế Việt Nam khi mở cửa đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài vào nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, nền hành chính công – dịch vụ công còn kém hiệu quả, thể hiện rõ nhất ở tình trạng quan liêu, bộ máu quá cồng kềnh, thủ tục rườm ra, sự trì trệ trong tư duy, quản lý lỏng lẻo làm thất thoát nguồn thu, lãng phí trong chi tiêu. Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng.
+ Nhà nước huy động vốn để kích cầu:
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước. Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao, khoảng 8% – 12% GDP.
+ Chưa chú trọng mối quan hệ chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên:
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách, làm tăng áp lực bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương).
Thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Để có nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ, các địa phương hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp trên đều tạo áp lực bội chi cho NSNN.
+ Quy mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn:
Tăng chi tiêu của Chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của Chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả, có thể gây ra thâm hụt ngân sách nhà nước, và gián tiếp gây ra lạm phát.
1.2.1.2. tỷ lệ nợ công trên GDP
Khái niệm và nội dung của nợ công
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng tổ chức cũng như thực tiễn hoạt động quản lý nợ công của mỗi quốc gia, nợ công được định nghĩa khác nhau. Thông thường, nợ công được hiểu là “tất cả nghĩa vụ trả nợ của chính phủ thuộc các cấp chính quyền địa phương và trung ương”, trong đó bao gồm nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương và ở một số quốc gia nợ công cũng tính đến cả nợ của các tổ chức công. Nợ công thường được đo lường bằng chỉ số tổng nợ công trên tổng sản phẩm trong nước (GDP)
1.2.1.3. Nguyên nhân gia tăng nợ công
- Nhóm yếu tố nội sinh
- Thâm hụt NSNN từ áp lực vốn đầu tư phát triển: Một trong những nguyên tắc quản lý NSNN là chi thường xuyên luôn nhỏ hơn thu thường xuyên để dành một phần nguồn thu thường xuyên và không thường xuyên cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, nhiều quốc gia thu thường xuyên không đủ chi thường xuyên và nhà nước phải đi vay một phần cho chi thường xuyên. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển luôn tăng nên áp lực gia tăng nợ công là tất yếu. Sự gia tăng từ vay nợ nhằm cân đối NSNN kết hợp với các khoản vay ngoài cân đối NSNN làm cho nợ công càng nghiêm trọng hơn. Nợ nước ngoài nói chung và nợ công với chủ nợ nước ngoài nói riêng cần được kiểm soát chặt hơn nhằm đảm bảo ổn định tài chính quốc gia.
- Lãi suất: Lãi suất là giá cả của tiền tệ, khi nhà nước đi vay sẽ phải trả lãi. Nếu kiểm soát lãi suất không hợp lý, thả nổi lãi suất trong bối cảnh thiếu kiểm soát thị trường tiền tệ và các tổ chức tài chính trung gian dẫn tới các cuộc đua lãi suất hay lãi suất tăng làm tăng nợ công.
- Tỷ giá hối đoái: Vay trong nước là chủ yếu vay nước ngoài đóng vai trò quan trọng là yêu cầu và nguyên tắc vay nợ của các nền kinh tế. Vì bản chất của các khoản nợ khác nhau. Tuy nhiên, khoản vay nợ nước ngoài bằng đồng ngoại tệ với thời gian dài. Sự biến động của tỷ giá với xu hướng tăng sẽ kéo theo nợ công tăng, bởi thời điểm vay và trả nợ khác nhau. Do đó, cần có các quỹ dự phòng biến động tỷ giá và trích bù chênh lệch tỷ giá với các doanh nghiệp nếu vay nợ nước ngoài.
- Chi phí vay nợ: Chi phí vay có xu hướng tăng, nhất là đối với vốn vay ODA khi không còn được ưu đãi như trước đó vì các chỉ số phát triển của quốc gia được cải thiện. Bên cạnh đó, việc phải mua máy móc thiết bị của nước cấp vốn vay đồng thời thầu chính các dự án là công ty của nước cấp vốn làm giảm hiệu quả vốn vay và tăng nợ công, bởi sự kém hiệu quả và giá cả đắt cho suất đầu tư công.
- Tỷ lệ cho vay lại và bảo lãnh của chính phủ: dẫn tới tăng nghĩa vụ nợ dự phòng cho NSNN. Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn gia tăng sẽ làm tăng gánh nặng nợ công, dù đây là khoản vay về cho vay lại.
- Nhóm yếu tố về điều hành quản lý nợ công
- Phân cấp quản lý và cách phân loại nợ công: Nhiều khoản đầu tư công được triển khai bằng vốn vay. Việc phân cấp quản lý vốn và phân bổ vốn NSNN hiện nay có những bất cập, thiếu gắn kết giữa đầu tư với cân đối trả nợ, cơ quan quản lý huy động và phân bổ có những sự độc lập nhất định với cơ quan cân đối và thu xếp trả nợ dẫn tới nợ công tăng. Bên cạnh đó cách xác định phạm vi nợ công chưa phản ánh đúng bản chất từng khoản nợ, có những sự khác biệt so với thông lệ chung hay quốc tế, trần nợ công chưa được tính toán hợp lý và kỷ luật tài khóa chưa tốt…
- Hệ thống văn bản quản lý chưa đồng bộ và thiếu những công cụ kiểm soát nợ công hiệu quả: Thống kê luật về nợ công của nước ta trước khi sửa đổi có tới 24 điều chiếm 25% cần quan tâm sửa đổi. Các quy định thiếu tính chủ động, linh hoạt của Chính phủ, cơ quan quản lý nợ công từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu an toàn, hiệu quả quản lý. Sự thiếu đồng bộ giữa các khâu từ vay nợ đến giải ngân làm ứ động vốn, lãng phí vốn vay, vì phải chờ dự án do chậm tiến độ.
- Tổ chức quản lý và nhân lực của cơ quan quản lý cũng là nguyên nhân có thể gia tăng nợ công. Nhân lực là yếu tố then chốt cho các quyết định đúng đắn. Nhân lực hạn chế cùng với vận hành thiếu liên kết giữa các bên trong quản lý vay nợ công sẽ ảnh hưởng lớn đến gánh nặng nợ và hiệu quả vay nợ.
- Nhóm yếu tố thị trường vốn và vĩ mô
- Tăng trưởng kinh tế trong nước và nước ngoài: Mỗi giai đoạn kinh tế phát triển hay suy giảm sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu vốn và đầu tư. Sự tương tác giữa các khoản nợ công mới chịu tác động trực tiếp của mặt bằng lãi suất và tác động ngược lại đến mặt bằng lãi suất khi nhà nước vay nợ có rủi ro rất thấp, thường quan niệm là bằng 0. Khi tăng trưởng tốt nhu cầu vốn cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn và ngược lại, tác động tương ứng thuận chiều với lãi suất trên thị trường.
- Thị trường tiền tệ trong nước: Đối với các nước phát triển và đang phát triển khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể khác nhau trên thị trường. Với nước đang phát triển nếu sử dụng các khoản vay bằng tín phiếu quá mức nhằm hạn chế rủi ro lãi suất nhưng lại bị ảnh hưởng bởi rủi ro thanh khoản và áp lực nên tùy từng thời điểm thị trường và nhu cầu mà Chính phủ ưu tiên vay ngắn hay dài hạn.
- Nhóm yếu tố ngoại sinh
- Sự thay đổi thị trường và chính trị quốc tế ảnh hưởng đến khả năng vay nợ và trả nợ buộc Chính phủ phải cơ cấu lại nợ công mà cụ thể là nợ nước ngoài.
- Biến động của kinh tế các nước lớn và đồng tiền mạnh: kéo theo nợ công có thể gia tăng khi giá đồng ngoại tệ lên giá. Sự khó khăn trong kinh doanh hay tiếp cận vốn quốc tế làm ảnh hưởng đến chi phí vay vốn và khả năng tiếp cận…
1.2.1.4. Tác động của nợ công
Nợ công được ví như con dao hai lưỡi. Nếu sử dụng hiệu quả và hợp lý sẽ là động lực cho phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Khi đầu tư vốn cho nền kinh tế với ICOR thấp sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi quản lý hiệu quả và chặt chẽ, quốc gia vay nợ có những cơ hội đầu tư tốt dù trong nước hay nước ngoài.
Nhưng với áp lực trả nợ và tỷ suất lợi nhuận phải cao hơn chi phí đi vay (đối với các khoản cho vay lại) buộc các chủ thể sử dụng vốn gia tăng hiệu suất đầu tư vốn. Đối với khoản đầu tư phát triển không sinh lợi buộc chính phủ lựa chọn dòng vốn có chi phí hợp lý và rủi ro đảo hạn nợ thấp. Ngược lại với những tác động tích cực là sự tiêu cực có thể cũng như chắc chắn diễn ra. Chi phí và giá đầu ra sẽ tăng khi các khoản nợ công được tính toán vào giá dịch vụ, phí… ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế. Quan trọng hơn là nguy cơ khủng hoảng nợ có thể xảy ra kéo theo nhiều hệ lụy trên quy mô rộng lớn có thể vượt tầm quốc gia. Cụ thể sẽ làm mất khả năng thanh khoản có thể bị tuyên bố vỡ nợ, nhẹ hơn là hạ tín nhiệm, chi phí vay tăng cao.
Nếu khủng hoảng xảy ra thực sự thì sẽ ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, gây nên tình trạng thất nghiệp cao. Nó đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn tăng trưởng nhanh kéo dài và chủ yếu giữa vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài từ các nước trong khu vực. Ngoài ra thì nợ công còn ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ trong nước, tấn công đầu cơ và rút vốn hàng loạt.
Giả sử một số thể chế tài chính bị phá sản do nợ nần. Khi phát hiện thấy những điểm yếu trong nền kinh tế, có thể kéo theo một số thể chế đầu cơ tiến hành tấn công tiền tệ thông qua việc giao dịch ngoại tệ nhằm rút vốn hay bảo toàn tài sản đầu tư bằng việc hoán đổi tiền tệ. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể đồng loạt rút vốn ra. Hoặc khi giá vốn nước ngoài quá rẻ so với trong nước dòng vốn gián tiếp được đầu tư làm tăng nợ quốc gia sẽ tràn vào ảnh hưởng an ninh tài chính và thị trường tiền tệ.
1.2.2. Tỷ lệ lạm phát
1.2.2.1. Khái niệm
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung. Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng. Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh để đảm bảo cho mức giá chung tăng.
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền. Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn. Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định.
Nếu thu nhập bằng tiền không tăng kịp tốc độ trượt giá, thì thu nhập thực, tức là sức mua của thu nhập bằng tiền sẽ giảm. Do vậy, thu nhập thực tăng lên hay giảm xuống trong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, phải chăng các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giảm giá trị đủ để bù đắp cho sự gia tăng của mức giá hay không. Người dân vẫn có thể trở nên khá giả hơn khi thu nhập bằng tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng giá.
Một điều quan trọng cần nhận thức rõ là lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá chung mà đó phải là sự gia tăng liên tục của mức giá chung. Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá chung, thì dường như mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó. Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát
1.2.2.2. Đo lường lạm phát
Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung. Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ ttt được tính theo công thức sau:
πt = x 100%
Trong đó:
πt : tỷ lệ lạm phát thời kỳ t (có thể là tháng, quý hoặc năm)
Pt : Mức giá của thời kỳ t
Pt-1 : Mức giá của thời kỳ t-1
Rõ ràng là để tính được tỷ lệ lạm phát, trước hết phải quyết định loại chỉ số giá nào phản ánh mức giá chung. Như đã biết, người ta thường sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP (DDD) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để đo lường mức giá chung. Tuy nhiên, nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống, thì rõ ràng chỉ số giá tiêu dùng tỏ ra thích hợp hơn. Trong thực tế, các số liệu công bố chính thức về lạm phát trên toàn thế giới đều được tính trên cơ sở CPI.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tài khóa
1.3.1. Những trở ngại về chính trị cản trở chính sách tài khóa
Ở nhiều nước, chính phủ muốn tiến hành đầu tư (chi tiêu chính phủ) thường phải xin Quốc hội phê duyệt. Khả năng bị Quốc hội bác bỏ không phải là không có. Vì thế, không phải cứ muốn thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng thông qua tăng chi tiêu Chính phủ là luôn có thể làm được. Mặt khác khi đã chi và tiến hành đầu tư rồi, mà lại muốn thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt lại cũng khó khăn vì không thể bỏ dở các công trình đầu tư đang triển khai được
Thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng thông qua giảm thuế thì dễ. Nhưng khi muốn thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt thông qua tăng thuế lại rất dễ bị người dân phản đối.
1.3.2. Độ trễ trong phát huy hiệu quả của chính sách tài khóa
Có độ trễ khi thực hiện chính sách tài khóa
+ Độ trễ bên trong: từ khi xuất hiện cú sốc tắc động vào nền kinh tế đến khi đưa ra chính sách để phản ứng lại cú sốc
+ Độ trễ bên ngoài: thời gian thực hiện chính sách đến khi chính sách phát huy hiệu quả.
Giả sử chính phủ muốn thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng bằng cách tăng chi tiêu chính phủ. Để được Quốc hội thông qua thì cũng phải mất thời gian chờ đợi Quốc hội xem xét, thảo luận. Sau đó, để triển khai còn phải tiến hành các hoạt động như lập kế hoạch dự án, khảo sát – thiết kế để triển khai đầu tư. Những việc này cũng mất không ít thời gian. Chính vì vậy, có một độ trễ để chính sách tài khóa nới lỏng bắt đầu phát huy tác dụng.
Các biện pháp chính sách tài khóa cũng chịu tác động của độ trễ tự nhiên hoặc do phải trải qua nhiều khâu chính sách khác nhau. Từ góc độ dự báo tương lai đúng 100%thì chính sách tài khóa có thể được đưa ra ngay khi cần. Không may là với sự bất định và hay thay đổi vốn có của thị trường, hầu như các nhà kinh tế không thể dự báo chính xác những thay đổi trong ngắn hạn.
1.3.3. Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Chính phủ và ngân hàng trung ương sử dụng hai công cụ quan trọng để điều hành nền kinh tế đó là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Nếu như được sử dụng đúng cách thì cả hai công cụ trên đều có thể đem lại những kết quả tương tự trong việc kích thích nền kinh tế và làm chậm lại khi kinh tế tăng trưởng nóng. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến trái chiều về vấn đề công cụ nào sẽ hiệu quả hơn trong thời gian dài hạn và ngắn hạn. Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có thể tác động đồng thuận, làm tăng hiệu quả của mỗi chính sách; ngược lại, có thể tác động của chính sách này lại triệt tiêu tác động của chính sách kia.
Mặc dù mỗi chính sách đều có ưu, nhược điểm riêng nhưng chính phủ luôn mong muốn tìm ra giải pháp trung hòa, kết hợp các mặt của cả hai chính sách để giải quyết các vấn đề kinh tế. Dù luôn luôn có độ trễ nhưng chính sách tài khóa dường như đem lại hiểu quả cao hơn trong dài hạn và chính sách tiền tệ thì lại có được những thành công trong ngắn hạn.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021-2023
2.1. Các chính sách tài khóa của Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023
Đại dịch COVID-19 đã khiến nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt với những khó khăn chưa từng có tiền lệ khi những tác động dài hạn của đại dịch tiếp tục lan rộng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả cung và cầu trên toàn thế giới. Đại dịch đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, gây ra sự thiếu hụt nguyên vật liệu và lạm phát giá cả hàng hóa cơ bản, đồng thời đẩy nhiều doanh nghiệp đến bờ vực phá sản. Những bất ổn về kinh tế, chính trị như chiến tranh thương mại Mỹ – Trung hay xung đột quân sự Nga – Ukraina thậm chí còn có xu hướng leo thang thì Việt Nam trong bối cảnh đó, với nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân vẫn đạt được những sự phục hồi và phát triển tương đối khả quan so với nhiều quốc gia khác.
2.1.1. Tình hình nền kinh tế Việt Nam
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế thông qua các hoạt động trong khu vực ASEAN, có những sự liên kết với các nước phát triển ở Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… cũng như tham gia sâu vào các thể chế quốc tế lớn, như: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), đặc biệt là tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Quá trình này mở ra nhiều cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, thúc đẩy phối hợp giữa các địa phương và ngành kinh tế trong nước, đồng thời tạo thuận lợi cho giao lưu kinh tế, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, tiếp nhận công nghệ và phát triển xuất nhập khẩu. Thế nhưng Việt Nam không phải được thoải mái, dễ dàng trong công cuộc này mà vẫn phải đối mặt với sự cạnh tranh tới từ những quốc gia khác. Quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi từng địa phương, từng bộ, ban ngành cần phải hiểu rõ được lợi thế cạnh tranh, những ưu điểm và nhược điểm cũng như tiềm năng của từng địa bàn để có được sự sắp xếp và phân công lực lượng lao động một cách hợp lý nhất, hướng đến sự phát triển bền vững và lâu dài.
Những động thái đó của Việt Nam thực sự đã phát huy tác dụng khi nền kinh tế của nước ta dù trải qua thời kỳ đại dịch vô cùng khó khăn nhưng lại là một trong số ít những quốc gia vẫn giữ được mức tăng trưởng GDP dương.
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Cụ thể thì theo Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới, mức tăng trưởng GDP của nước ta năm 2021 đạt con số 2,58%. Đây tuy không phải là con số quá lớn nếu không muốn nói là thấp nhất trong vòng 10 năm trước đó nhưng nếu đặt trong bối cảnh của đại dịch thì đây quả thực là một thành tựu rất đáng nể của Việt Nam.
Sang năm 2022, trên toàn thế giới trong đó có cả Việt Nam phải đối mặt với những biến động khó lường cả về kinh tế lẫn chính trị, đặc biệt là xung đột quân sự Nga – Ukraina. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy do đại dịch, tình hình lạm phát diễn biến khó lường nhưng Việt Nam đã thành công trong việc phục hồi nền kinh tế nhờ sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng và nhà nước. Với tôn chỉ “vừa chống dịch vừa phục hồi sản xuất, kinh doanh, thực hiện mục tiêu kép”, đất nước ta đã kết thúc năm 2022 với tăng trưởng GDP ở mức rất cao là 8,02% so với năm 2021 và cũng là con số cao nhất trong vòng 11 năm qua. Thành tựu này đạt được cũng một phần là do tình hình dịch bệnh đã cơ bản được kiểm soát và đời sống người dân cũng đã dần đi vào ổn định để tiếp tục sản xuất kinh doanh. Sang đến năm 2023 khi mà dịch bệnh chính thức kết thúc, nhiều nơi trên thế giới vẫn đang loay hoay khắc phục hậu quả của COVID-19 nên nhìn chung mức tăng trưởng được dự báo là sẽ thấp hơn của năm trước đó và yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Kinh tế thế giới đối mặt với nhiều khó khăn, tổng cầu suy giảm, lạm phát cao và chính sách tiền tệ thắt chặt ở nhiều quốc gia đã hạn chế đáng kể đến nhu cầu chi tiêu hàng hóa. Điều này khiến sản lượng xuất khẩu của Việt Nam giảm sút, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với những sản phẩm trọng điểm như điển tử, dệt may, gỗ…Nhiều doanh nghiệp cũng gặp khó khăn khi thiếu đơn hàng, chi phí sản xuất tăng cao và khó khăn trong tiếp cận vốn vay. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm, trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng, phản ánh môi trường kinh doanh kém thuận lợi. Đó cũng là lí do khiến tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2023 chỉ đạt mức 5,05% so với năm 2022 và không đạt được chỉ tiêu ban đầu mà Thủ tướng Chính phủ đề ra đầu năm là 6,5%.
Nhìn chung thì trong giai đoạn khó khăn vì đại dịch, Việt Nam vẫn chủ động có những giải pháp thích nghi nhằm hạn chế đến mức tối đa thiệt hại về mọi mặt và đã đạt được những thành công nhất định nếu so với nhiều nền kinh tế phát triển khác trên thế giới. Để đạt được những thành tựu này thì công đầu phải là nhờ sự chỉ đạo sáng suốt của các cấp lãnh đạo của Đảng, nhà nước khi đã có những biện pháp hỗ trợ kịp thời cho mọi người dân, doanh nghiệp để cùng vượt qua những thời điểm khó khăn. Việt Nam luôn thể hiện tinh thân sẽ đồng lòng giúp đỡ người dân vượt qua đại dịch bằng những gói hỗ trợ, những chính sách thúc đẩy, kích thích nền sản xuất hoạt động trở lại và trong đó thì những chính sách tài khóa được áp dụng trong thời gian này đóng vai trò rất quan trọng.
2.1.2. Các chính sách tài khóa Chính phủ áp dụng
Trong giai đoạn này, Chính phủ luôn giữ quan điểm là phải bám sát với chủ trương và định hướng của Đảng, các nghị quyết Quốc hội về việc theo đuổi mục tiêu phục hồi nền kinh tế sau đại dịch, ưu tiên phát triển những ngành, lĩnh vực trọng điểm và hướng tới trung bình tăng trưởng trong giai đoạn 2021-2025 đạt từ 6,5-7%. Những chính sách mà Chính phủ áp dụng đa phần sẽ mang xu hướng kích cầu nền kinh tế. Ngay đầu năm 2022, Chính phủ đã ban hành gói hỗ trợ phục hồi phát triển kinh tế – xã hội với quy mô 350 nghìn tỷ đồng, tương đương 4,3% GDP toàn đất nước và được giải ngân trong năm 2022 và 2023. Đây cũng là gói hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế lớn nhất từ trước đến nay. Các doanh nghiệp, ngành nghề chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch đã được trực tiếp nhận sự hỗ trợ từ Chính phủ bằng những ưu đãi thiết thực như miễn, giảm hay gia hạn thời gian nộp các loại thuế (thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt…) hay những lĩnh vực trọng điểm thì được tiếp cận với những nguồn vốn ưu đãi với lãi suất thấp hơn thông qua các ngân hàng thương mại. Một phần lớn trong gói hỗ trợ của Chính phủ (khoảng gần 114 tỷ đồng) cũng được dùng để xây dựng và nâng cấp kết cấu cơ sở hạ tầng cho thấy tầm quan trọng của việc một nền móng tốt cho sự phát triển lâu dài.
Còn đối với người dân, những người nghèo hoặc những đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp vì dịch bệnh thì theo Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 01/7/2021, Chính phủ đã triển khai gói hỗ trợ 26.000 tỷ đồng nhằm hỗ trợ đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, chính sách giảm thuế (giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường đối với xăng dầu,…) cũng được áp dụng, nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính của người dân.
2.2. Thực trạng về hiệu quả áp dụng chính sách tài khóa của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023
Về cơ bản thì trong giai đoạn trong và sau đại dịch COVID-19, dù tình hình thế giới có gặp nhiều biến động thì bằng những quyết định sáng suốt trong chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, cùng đồng lòng vượt khó thì Việt Nam đã thu được những thành quả nhất định trong công cuộc phục hồi và ổn định hướng đến tăng trưởng bền vững. Những thành tựu đó được thể hiện rõ ràng qua tình trạng thâm hụt ngân sách, tỉ lệ nợ công trên tổng sản phẩm trong nước và cả mức lạm phát trong giai đoạn này nữa. Tuy có nhiều điểm tích cực nhưng song song với đó Chúng ta sẽ cùng đi vào phân tích cụ thể để hiểu được những nỗ lực trong việc ban hành những chính sách hỗ trợ, những nước đi chính xác của các cấp lãnh đạo thật sự đã đèo lái nền kinh tế Việt Nam không bị mất kiểm soát trong những khoảng thời gian khó khăn.
2.2.1. Tình trạng thâm hụt ngân sách
Thâm hụt ngân sách là một trong những vấn đề thường trực trên khắp thế giới và hầu như không một quốc gia nào trên thế giới không xảy ra thâm hụt ngân sách cả, sự khác nhau chỉ nằm ở mức độ và quy mô. Việt Nam cũng là nước thường xuyên rơi vào tình trạng thâm hụt ngân sách vì phải chi cho những khoản mục đầu tư quan trọng của quốc gia.
Nguồn: Bộ trưởng Bộ Tài chính
Nhìn vào biểu đồ trên, có thể thấy rằng tình trạng thâm hụt ngân sách của Việt Nam có xu hướng tăng dần sau mỗi năm, năm 2021 có mức bội chi đạt khoảng 214,1 nghìn tỷ đồng (2,52% GDP) và đã tăng 37,02% lên mức 293,3 nghìn tỷ đồng (3,07% GDP) vào năm sau đó. Những khoản thâm hụt này là do Chính phủ áp dụng chính sách tài khóa mở rộng, tức là gia tăng chi tiêu, để phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hậu đại dịch. Nhìn chung trong vòng hai năm này thì mức thâm hụt không quá cao và vẫn được kiểm soát trong mức độ cho phép. Điều đó đã cho thấy sự thận trọng của Chính phủ trong chi tiêu công và phản ánh cả độ hiệu quả của các biện pháp kiểm soát ngân sách.
Đến năm 2023, dù chưa có những số liệu quyết toán đầy đủ nhưng theo ước tính của Bộ Tài chính thì bội chi ngân sách nhà nước sẽ khoảng 415,2 nghìn tỷ đồng. Đây là một sự gia tăng đáng kể so với năm trước đó với nguyên nhân chủ yếu đến từ việc nguồn thu thuế bị ảnh hưởng do các chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong đại dịch COVID-19 kèm thêm cả việc Chính phủ cũng phải chi tiêu nhiều hơn trong tình hình dịch bệnh. Thêm vào đó còn là đợt nâng lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức và tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội cho những đối tượng chính sách cũng khiến Chính phủ phải tiêu nhiều tiền hơn.
Nhìn chung thì việc Chính phủ áp dụng chính sách tài khóa mở rộng trong giai đoạn này nhằm phục hồi và kích thích nền kinh tế tăng trưởng sau giai đoạn khó khăn là hợp lý và hệ quả dẫn đến việc chi vượt quá thu là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên thì mức thâm hụt ngân sách này vẫn nằm trong tính toán của Chính phủ và không khiến đất nước gặp nguy hiểm về tài chính.
2.2.2. Tình trạng nợ công và quản lý nợ công
Để tài trợ cho những hoạt động chi tiêu, đầu tư cơ sở hạ tầng của Chính phủ thì chỉ một nguồn thu từ thuế thôi sẽ là không đủ. Vì vậy nên Chính phủ mỗi quốc gia rất “chuộng” vay mượn thêm để có nguồn kinh phí trang trải cho những khoản phải chi của mình. Những nguồn vay này có thể đến từ trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc,…Việt Nam cũng cần những nguồn tài chính đến từ vay mượn để có thể sử dụng cho mục đích phát triển nền kinh tế. Theo Ngân hàng Thế giới và Bộ Tài chính, hàng năm nước ta có phát sinh những khoản vay nợ nhưng rất ổn định và luôn nằm dưới mức nguy hiểm. Cụ thể hơn có thể nhìn vào bảng sau:
Nguồn: Bộ Tài chính, Ngân hàng thế giới
Có thể thấy rằng tỷ lệ nợ công trên GDP có xu hướng giảm dần theo từng năm, từ năm 2021 đang ở mức 43,1% thì sang đến năm 2022 đã giảm xuống mức 37,4% và nợ công năm ngoái của nước ta ước tính chỉ còn 37%. Đây là những kết quả rất tích cực trong việc quản lý nợ công với rủi ro tài khóa được các tổ chức quốc tế đánh giá ở mức trung bình. Điều này có được nhờ việc hoàn thiện các quy định về quản lý nợ công, tạo khung pháp lý đầy đủ cho việc phát hành đa dạng các công cụ nợ và huy động vốn cho ngân sách nhà nước. Cùng với đó, các chương trình quản lý nợ trung hạn và kế hoạch vay, trả nợ hàng năm đã giúp tái cơ cấu nợ Chính phủ theo hướng bền vững, giảm thiểu rủi ro về kỳ hạn và thanh khoản, đảm bảo trả nợ đầy đủ, đúng hạn góp phần cải thiện hệ số tín nhiệm quốc gia. Kết quả là vào năm 2022, trong bối cảnh nhiều quốc gia bị hạ bậc tín nhiệm, Việt Nam được 2 tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s và S&P nâng hạng tín nhiệm quốc gia, tổ chức Fitch giữ nguyên mức xếp hạng tín nhiệm. Cơ cấu danh mục nợ công và nợ Chính phủ cũng được cải thiện rõ rệt, với tỷ trọng nợ trong nước tăng và nợ nước ngoài giảm.
Tuy vậy thì việc quản lý nợ công cũng phải đối mặt với một số hạn chế liên quan đến vấn đề chậm giải ngân nguồn vốn đầu tư công đặc biệt là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) dẫn đến việc một số các công trình xây dựng bị chậm trễ và không đạt tiến độ đề ra. Ngoài ra mặt bằng lãi suất tăng vì những bất ổn trên thị trường quốc tế càng làm gia tăng sức ép lên đồng Việt Nam làm đồng nội tệ mất giá hơn. Vô hình chung điều này sẽ lại gia tăng áp lực trả nợ cho những khoản vay đặc biệt là những khoản vay bằng ngoại tệ.
2.2.3. Tình trạng lạm phát
Lạm phát là một vấn đề thường trực của bất kỳ quốc gia nào, lạm phát là điều không thể tránh khỏi vì giá trị đồng tiền sẽ luôn giảm đi theo thời gian và hàng hóa càng ngày càng đắt lên. Chính vì hiểu được sự thật này mà các quốc gia thay vì phòng chống lạm phát thì đã chọn kiểm soát lạm phát là mục tiêu thiết thực hơn.
Trong suốt lịch sử phát triển của nền kinh tế Việt Nam thì cũng đã từng có những lúc đất nước ta rơi vào khủng hoảng vì lạm phát quá cao, đỉnh điểm là vào những năm 1983-1985, tỉ lệ lạm phát đã lên tới con số hơn 700%. Nhưng sau thời điểm đó, nền kinh tế đã có sự đổi mới trong cách thức vận hành nhờ sự mới mẻ trong tư duy lãnh đạo của Đảng và nhà nước nên dần dần tình hình lạm phát cũng đã được cải thiện đáng kể nhưng tất nhiên là vẫn sẽ có những thời điểm lạm phát cao hơn một chút do sự biến động của thị trường toàn cầu, có thể kể đến cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 trên toàn thể giới đã khiến cho đồng tiền nước ta mất đi 19,87% giá trị.
Còn trong giai đoạn 2021-2023, dù đại dịch COVID vẫn còn để lại những hậu quả to lớn, cản trở đà phục hồi của nền kinh tế toàn cầu thì Việt Nam, một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh nhưng vẫn có thể kiểm soát được tình hình lạm phát rất tốt và luôn nằm trong mục tiêu Quốc hội đề ra.
Năm 2021, giá cả chỉ tăng một mức nhẹ khoảng 1,84%, sang đến năm 2022 khi tình hình chính trị thế giới có nhiều biến động hơn, chiến tranh xung đột quân sự giữa Nga – Ukraina đã khiến cho giá xăng dầu tăng lên mức cao nhất trong lịch sử. Điều này cũng đóng góp vào việc CPI của Việt Nam đã tăng lên mức 3,15%. Sang đến năm 2023 thì tình hình giá cả leo thang vẫn ở trạng thái ổn định.
Nhìn chung là công tác kiểm soát và quản lý lạm phát của Việt Nam được thực hiện rất tốt, giá cả hàng hóa hay chi phí sinh hoạt của người dân không tăng mất kiểm soát và đều có thể được dự báo trước.
2.3 đánh giá về hiệu quả cstk
2.3.1 kết quả đạt được
2.3.2 hạn chế và nguyên nhân
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TẠI VIỆT NAM
Để nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng chính sách tài khóa, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp chính: thứ nhất, tăng cường hiệu quả quản lý thu ngân sách, nghĩa là thu ngân sách sao cho hiệu quả, thu đủ thu đúng và từ đó cũng giúp gia tăng nguồn thu từ thuế cho quốc gia; thứ hai, tối ưu hóa chi tiêu công sao cho chi đúng nơi, đúng mục đích và đúng quy trình sao cho đạt được hiệu quả tối ưu; thứ ba, quản lý và kiểm soát nợ công hiệu quả.
3.1. Nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách
3.1.1. Cải cách hệ thống thuế
Chính phủ yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thuế gắn với cơ cấu lại thu ngân sách nhà nước theo hướng bao quát toàn bộ các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, nhất là nguồn thu mới, phù hợp với thông lệ quốc tế…hướng tới một hệ thống thuế đồng bộ, có cơ cấu bền vững, bảo đảm huy động hợp lý các nguồn lực cho ngân sách nhà nước, góp phần tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi. Tiến tới xây dựng ngành thuế hiện đại, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả… Công tác quản lý thuế minh bạch, chuyên nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý và thu thuế, đơn giản hóa thu tục và giảm chi phí cho người dân nhằm hướng đến một hệ thống thuế mới vào năm 2030.
3.1.2. Đẩy mạnh chống thất thu thuế và gian lận thuế
Để thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro thất thu và gian lận thuế trong cơ quan thuế, cơ quan thuế các cấp cần tăng cường thanh tra, kiểm tra về thuế, triển khai hóa đơn điện tử, tăng cường sử dụng dữ liệu quốc gia về dân cư, sử dụng cơ sở dữ liệu đó để kết nối thông tin giữa các ngành, tăng cường quản lý thuế. Nếu phát hiện có sai phạm thì phải xử lí nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ phát triển thương mại điện tử, chống thất thu thuế, bảo đảm an ninh tiền tệ. Cần tổ chức thêm những buổi tuyên truyền cho người dân về tầm quan trọng của việc minh bạch trong kê khai và nộp thuế.
3.2. Nâng cao hiệu quả chi tiêu công
3.2.1. Tối ưu hóa phân bổ ngân sách
Rà soát và đánh giá lại những dự án có vốn đầu tư được giải ngân chậm từ đó phân tích lí do và đưa ra những giải pháp hợp lý. Ưu tiên sử dụng nguồn vốn hữu hạn để đầu tư vào những dự án quan trọng, những lĩnh vực là thế mạnh của đất nước. Thực hiện có những đợt rà soát, đánh giá, kiểm tra định kì những dự án lớn để kịp thời can thiệp nếu có vấn đề phát sinh.
3.2.2. Tăng cường đầu tư vào những lĩnh vực quan trọng
Những lĩnh vực như y tế, giáo dục, xây dựng và nghiên cứu là những động lực phát triển chính của đất nước trong dài hạn nên cần đầu tư sự quan tâm và nguồn lực hơn. Những sản phẩm xuất khẩu cũng cần được chú trọng, hỗ trợ từ lãnh đạo các cấp để những nông sản chất lượng cao của Việt nam có thể được xuất khẩu ra những thị trường khó tính như Châu Âu, Trung Quốc hay Mỹ
3.3. Giải pháp quản lý và kiểm soát nợ công
Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý nợ công và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, bộ Tài chính đã có chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước cũng như quản lý nợ công nhằm đảm bảo nền tài chính an toàn và bền vững, trong đó có một số nhóm giải pháp chính như sau:
- Tập trung lại cơ cấu thu và chi của ngân sách nhà nước, tăng cường quản lý nợ công. Đặc biệt phải thực hiện nghiêm nguyên tắc những khoản vay để bù đắp cho bội chi ngân sách chỉ được phép sử dụng với mục đích đầu tư phát triển chứ không sử dụng cho chi thường xuyên
- Tiếp tục hoàn thiện chính sách thu gắn với cơ cấu lại thu ngân sách nhà nước theo hướng bao quát toàn bộ nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tỷ trọng thu nội địa. Từng bước cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng tăng tỷ trọng chi đầu tư, giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên gắn với đổi mới mạnh mẽ khu vực sự nghiệp công lập. Đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả đầu tư công.
- Hoàn thiện thể chế, chính sách, công cụ, bộ máy quản lý nợ công để kiểm soát toàn diện rủi ro, hiệu quả nợ công. Tiếp tục cơ cấu lại nợ công theo hướng kéo dài kỳ hạn, giảm áp lực trả nợ ngắn hạn và chi phí vay vốn. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, bảo đảm trả nợ đầy đủ, đúng hạn; kiên quyết không sử dụng vốn vay cho các mục đích và dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế xã hội thấp hoặc không rõ ràng. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay về cho vay lại. Hạn chế tối đa việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài chính – ngân sách và nợ công
KẾT LUẬN
Dù tình hình nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến động nhưng thông qua điều chỉnh các công cụ như thu ngân sách, chi tiêu công và quản lý nợ công, những chính sách tài khóa hợp lý đã giúp Việt Nam duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội. Trong giai đoạn từ 2021-2023, các biện pháp tài khóa như miễn giảm thuế, tăng chi tiêu đầu tư công, và hỗ trợ các ngành nghề đã chứng minh hiệu quả trong việc thúc đẩy phục hồi kinh tế, giảm tỷ lệ nợ công và kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý. Tuy nhiên, chính sách tài khóa cũng đối mặt với thách thức như thâm hụt ngân sách và áp lực nợ công gia tăng. Thông qua điều chỉnh các công cụ như thu ngân sách, chi tiêu công và quản lý nợ công,
Để đảm bảo hiệu quả và bền vững của chính sách tài khóa trong tương lai, cần tập trung vào việc cải cách hệ thống thuế, tăng cường chống thất thu thuế, tối ưu hóa phân bổ ngân sách và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. Đồng thời, việc quản lý nợ công cần được thực hiện một cách thận trọng và minh bạch, đảm bảo nợ công ở mức an toàn và duy trì uy tín tín dụng quốc gia. Ngoài ra, sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cũng là yếu tố thiết yếu giúp kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Nhìn chung, chính sách tài khóa có vai trò điều tiết nền kinh tế, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát các rủi ro kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đầy thách thức, việc tiếp tục nâng cao hiệu quả của chính sách tài khóa sẽ giúp Việt Nam phát triển kinh tế một cách bền vững, tạo nền tảng vững chắc cho những mục tiêu phát triển dài hạn.

Tôi là Nguyễn Đình Long, hiện tại tôi là Quản lý nội dung của Luận Văn 3C– Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn uy tín. Chúng tôi đặt lợi ích của khách hàng là ưu tiên hàng đầu. Website: https://luanvan3c.com/ – Hotline: 0966.736.325.
GẶP TƯ VẤN VIÊN
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Bài tiểu luận Thực trạng sử dụng bảo lãnh quốc tế trong hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam và những vấn đề pháp lý đặt ra. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Bài tiểu luận Thị trường xăng dầu ở Việt Nam và ngoại tác ảnh hưởng đến nó trong năm 2022. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Bài tiểu luận Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. Liên hệ thực tiễn tại một Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Bài tiểu luận Quy trình tổ chức thực hiện đầu tư nước ngoài. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của mình đạt kết quả cao nhất. BÀI […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Bài tiểu luận Quản lý nhà nước về kinh tế của chính quyền thị trấn Tân Kỳ hiện nay. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của mình […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Bài tiểu luận Quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của mình đạt kết quả cao nhất. […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Bài tiểu luận Phân tích tình hình cung, cầu, cân bằng thị trường của Công ty Cổ phần Sabeco. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của mình […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Bài tiểu luận Phân tích thực trạng đầu tư tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của mình đạt […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Khoá luận tốt nghiệp Pháp luật về kiểm tra thuế đối với hộ kinh doanh. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của mình đạt kết quả cao nhất. […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Khoá luận tốt nghiệp Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm điện ảnh ở Việt Nam hiện nay. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Khoá luận tốt nghiệp Quyền tự do ngôn luận thông qua mạng xã hội tại Việt Nam. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của mình đạt kết quả […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Khoá luận tốt nghiệp Hoàn thiện pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên ở Việt Nam. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Khoá luận tốt nghiệp Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết bài tiểu luận môn học của mình đạt kết […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Khoá luận tốt nghiệp Đổi mới công tác bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Chính phủ trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn viết […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Báo cáo thực tập Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm giúp các bạn học viên cao học tham khảo từ đó giúp các bạn […]
Bình chọn Chia sẻ tài liệu Báo cáo thực tập Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam – thực tiễn áp dụng tại Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn Khởi Minh và một số giải pháp, kiến nghị. Tài liệu được Luận Văn 3C chia sẻ nhằm […]